VŨ-HỮU-SAN &Thế-Giới của Nước
Home ] TàuCộng KhóThắng BiểnĐông ] ThủĐoạn TiêuDiệt VănHóa ] VănTế 74 TửSĩ HảiChiến HoàngSa ] HìnhẢnh HảiChiến HoàngSa ] BảnĐồ ThuyếtTrình Edm&Calgary ] Dự-Án Song-Tử ] Tàu TrungCộng Cắt Cáp Tàu ThămDò VN ] Lệnh TamBấtĐả-HứaThếHữu ] Biển Đông 74,000 năm trước ] Tham-Luận Biển Đông ] Hải-đồ DângGiặc ] Bản-Đồ Bắc TrườngSa ] BảnĐồ MalaysiaViệtNam ] Bản-Đồ Nước Triệu km2 ] Nước Việt Hình Chữ S ] Hải Phận Triệu Km2 ] Hải Phận Triệu Km2 (Tiếp) ] Hải Phận Valencia ] TàiLiệu PhápLý ] BảnÐồBiênGiớiViệt-Hoa ] Bản-đồ Phân-Chia Vịnh Bắc-Việt ] VịnhBắcViệt ] LáThư Gởi Đầy Tớ ] TiếngNóiVịnhBắcViệt ] VấnÐềBiênGiới-BsNguyenÐanQuế ] HảiGiới ViệtHoa ] VĩnhBiệt NguyênNhi ] LêChíQuangPhảnÐối ] CácĐội HoàngSa ] NamQuan ] BiểnĐông ThiênKỷMới ] Biển Đông Ô Nhiễm ] VịnhBắcViệt-HàngHải ] VịnhBắcViệt-HuyềnThoại ] NguyễnNhã-NghiênCứu HoàngSa ] Chủ Quyền HoàngTrường ] HảiThươngBiểnÐôngCổThời ] BsTrầnÐạiSỹTổngKếtHảiChiến ] HảiChiếnHoàngSaNóiChuyện ] Hải Chiến Hoàng Sa ] HQ16ÐàoDân ] HảiChiếnHoàngSaTrầnThếÐức ] VĩnhLiêmHoàngSaHảiChiến ] Chuyện Một Con Tàu ] NgườiBạnHảiQuân ] BạnTôiSầuÐông ] SachMoiNgoTheVinh ] TranhCổTấnTinhChâu ] HảiQuân Còn Mất ] TuầnThám NguyễnVănƠn ] FutureDestroyer ] Mischief Situation ] DER-HQ4 ] To Chuc HQVNCH ] Forgotten ASPB ] Études Vietnamiennes ] Environments'Protection ] VN Water Culture ] Legends-Water Realm ] Useful Books&Maps ] VN Sovereignty ] Vietnam Energy ] Raft Across Pacific ] Triết Lý Nước ] HảiQuânViệtNam TừBaoGiờ ] Hàng Hải Gốc Rễ Việt Nam ] Ðịa Lý Biển Ðông ] Thuật Ngữ Hàng Hải ] NgườiViệt KhámPhá MỹChâu ] Ngày HảiQuân1973 ] Photo Album ] Người Thủy Thủ Già ] SoạnThảo HảiSử ] MộtNgàyVớiÐÐCang ] Lược Sử Nước ] PhanQuỳnh ] NguyễnVănLục ] HT Nguyễn Văn Lộc ] VũNgọcRuẩn BốTôi ] [ VũVănToàn ] ThơVăn HoàngĐìnhBáu ] KỷNiệm ÐờiQuânNgũ ] ChiếcBình TháiLọ ] ChânDung SVSQHQXI ] BảoBình&HìnhẢnh ] Quê Nhà 50 Năm Trở Lại ] ChuVănAn2B3-1956 ]

DịchThơ2
DịchThơ3

 

Dịch Thơ và Thơ Dịch

Thuần Lương Vũ Văn Toàn

Thuở xưa ở nước ta, khi Hán học còn thịnh, các cụ ta đọc thơ, làm thơ chữ Hán hoặc chữ Nôm, chứ ít ai dịch thơ.

Kể từ khi Hán học suy tàn và thơ Pháp đã bắt đầu phổ biến ở Việt nam, những người biết khá chữ Hán, hình như muốn chia sẻ những cảm nhận, những thích thú của mình đã đem dịch một số những bài thơ cổ phong nhất là những bài thơ Đường nổi tiếng trong đó có các cụ Trần-Trọng- Kim, Ngô-Tất-Tố, Nguyễn-Khắc-Hiếu...Riêng những nhà tân học thì dịch những bài thơ Pháp được truyền tụng ngay bên chính quốc chẳng hạn như cụ Nguyễn văn Vĩnh, nhà văn Khái Hưng,...

Dịch thơ dĩ nhiên là phải tìm hiểu từng chữ, từng câu- nhất là chữ Hán- và nội dung toàn bài, sau đó mới diễn ra bằng tiếng mẹ đẻ.

Người dịch dĩ nhiên phải '' xính'' làm thơ, có tâm hồn nhạy cảm, hay nói cách khác là có hồn thơ và chính cái hồn thơ nơi người dịch là điều căn bản.

Vẫn cái chuyện '' đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu''. Cũng như người Pháp quen nói: '' Qui se ressemblent, s'assemblent.''

Một người chưa yêu, hoặc chỉ yêu theo cái kiểu '' nhà, bố làm cho; vợ, bố lấy cho'' thì khó mà cảm nhận được bài thơ nói về mối tình lãng mạn của chàng trai chỉ một lần nhác thấy bóng hồng mà đã mê mẩn, nhung nhớ để một năm sau lại đến chốn xưa, giai nhân đâu chẳng thấy mà chỉ thấy bẽ bàng khi hoa đào với gió đông cười nhạo mình. ( Hình như Nguyễn Du đã có lần như vậy nên mới có câu Kiều: '' ' Hoa đào năm ngoái còn cười gió đông''.

Một người sinh ra trong bọc điều, lớn lên trong nhung lụa, không hề bị cái đói, cái rét hành hạ thì chia xẻ làm sao được nỗi lòng của kẻ '' cốt bần'' và không thể nào dịch cho thấm thiá những câu:

Vô y, sử ngã hàn,

Vô phạn, sử ngã cơ.

( Không áo khiến ta lạnh. Không cơm khiến ta đói).

Có những người cả đời chưa hề chia tay với người yêu thương một lần nào thì có dịch một bài thơ ''tiễn biệt'' nào đó, đọc lên vẫn không có hồn.

Nói tóm lại là dù chỉ dịch thôi, người dịch cũng phải có tâm tư tương tự như tác giả, như kiểu người xưa đã nói: '' ta cũng nòi tình, thương người đồng điệu.'' ( Chu-mạnh-Trinh).

Ngoài ra mỗi ngôn ngữ có sắc thái riêng biệt cho nên người Pháp đã khẳng định: '' Traduire, c'est trahir''. Mà dịch thơ thì cái chuyện phản bội càng lớn hơn..Thôi thì lúc thêm, lúc bớt, tác giả nói kiểu này, dịch giả nói kiểu kia, lại còn thể thơ khác nhau, luật thơ, vần điệu phải tôn trọng chứ.

Những bài thơ chữ Hán, chữ Pháp được truyền tụng thường có nhiều người dịch ra thơ Việt. Dĩ nhiên là có bài hay, có bài thường vậy. Điều cốt yếu là khi ngâm lên người ta nghe đúng là thơ tiếng Việt là được.

Bài tứ tuyệt của Vương-sĩ-Trinh đề cho truyện '' Liêu trai chí dị'' của Bồ Tùng Linh dưới đây:

Cô vọng ngôn chi nghe thính chi.

Đậu bằng quá giá, vũ như ti.

Liệu ưng yếm tác nhân gian ngữ,

Aí thính thu phần quỷ xướng thi

 

Bài dịch I: Nói láo mà chơi, nghe láo chơi.

Dàn dưa lún phún hạt mưa rơi.

Sự đời đã chán không buồn nói,

Lẳng lặng nghe ma kể chuyện người.

Tản Đà.

 

Tản Đà đã tự cho mình là ngông nên hạ bút viết '' nói láo, nghe láo'' chắc là đắc ý lắm. Một tay cự phách trong giai đoạn chuyển tiếp cựu học và tân học thì bài thơ dịch của ông phải kể là hay. Nhưng dĩ nhiên là không tránh khỏi sự thêm bớt bất đắc dĩ. Dịch giả chỉ nói đến dàn dưa ( qua giá) mà không nói đến dàn đậu ( đậu bằng). Câu cuối dịch giả lại nói là '' lẳng lặng nghe ma'' trong khi nguyên tác lại là '' ái thính'' ( khoái nghe).

Mấy câu trên đây chỉ muốn nói: không nên câu nệ, không cần phải gò từng chữ, từng câu, miễn sao nói lên được ý chính là đủ.

 

Bài dịch II: Nói nhăng, nói cuội miễn cho qua.

Dàn đậu, dàn mưa lún phún mưa.

Đã chán việc đời không nhắc đến,

Thu về khoái quỷ xướng thi xưa.

Văn Toàn.

 

Bài dịch III: Nghe nghe, nói nói mà chơi.

Dàn dưa, dàn đậu mưa rơi lạnh lùng.

Sự đời chán ngán vô cùng,

Thu về, ma kể chuyện lòng mà vui.

Văn Toàn.

 

Bảo rằng bài này hơn bài kia e không đúng. Bài nào thì cũng cố gắng trung thành tối đa với nguyên tác, thế thôi. Cái quan trọng là đọc lên không ngô nghê, không lai căng, cái giọng Việt, cái tinh thần Việt ngữ không xa rời là được.

Để kết luận, học hỏi, bắt chước các bậc tiền bối rồi sử dụng ngôn ngữ của mình dịch thơ từ chữ Hán, hoặc tiếng Pháp, tiếng Anh, những sinh ngữ mà mình có chút vốn liếng phải kể là một thú vui tao nhã, trầm lắng. Vào một dịp khác sẽ nói tiếp về những bài thơ dịch đã được lưu truyền.

Thuần Lương Vũ Văn Toàn

Fountain Valley 22-4-2000