Vũ-Hữu-San &Thế-Giới của Nước

04/21/16

Home
TàuCộng KhóThắng BiểnĐông
ThủĐoạn TiêuDiệt VănHóa
VănTế 74 TửSĩ HảiChiến HoàngSa
H́nhẢnh HảiChiến HoàngSa
BảnĐồ ThuyếtTŕnh Edm&Calgary
Dự-Án Song-Tử
Tàu TrungCộng Cắt Cáp Tàu ThămḌ VN
Lệnh TamBấtĐả-HứaThếHữu
Biển Đông 74,000 năm trước
Tham-Luận Biển Đông
Hải-đồ DângGiặc
Bản-Đồ Bắc TrườngSa
BảnĐồ MalaysiaViệtNam
Bản-Đồ Nước Triệu km2
Nước Việt H́nh Chữ S
Hải Phận Triệu Km2
Hải Phận Triệu Km2 (Tiếp)
Hải Phận Valencia
TàiLiệu PhápLư
BảnĐồBiênGiớiViệt-Hoa
Bản-đồ Phân-Chia Vịnh Bắc-Việt
VịnhBắcViệt
LáThư Gởi Đầy Tớ
TiếngNóiVịnhBắcViệt
VấnĐềBiênGiới-BsNguyenĐanQuế
HảiGiới ViệtHoa
VĩnhBiệt NguyênNhi
LêChíQuangPhảnĐối
CácĐội HoàngSa
NamQuan
BiểnĐông ThiênKỷMới
Biển Đông Ô Nhiễm
VịnhBắcViệt-HàngHải
VịnhBắcViệt-HuyềnThoại
NguyễnNhă-NghiênCứu HoàngSa
Chủ Quyền HoàngTrường
HảiThươngBiểnĐôngCổThời
BsTrầnĐạiSỹTổngKếtHảiChiến
HảiChiếnHoàngSaNóiChuyện
Hải Chiến Hoàng Sa
HQ16ĐàoDân
HảiChiếnHoàngSaTrầnThếĐức
VĩnhLiêmHoàngSaHảiChiến
Chuyện Một Con Tàu
NgườiBạnHảiQuân
BạnTôiSầuĐông
SachMoiNgoTheVinh
TranhCổTấnTinhChâu
HảiQuân C̣n Mất
TuầnThám NguyễnVănƠn
FutureDestroyer
Mischief Situation
DER-HQ4
To Chuc HQVNCH
Forgotten ASPB
Études Vietnamiennes
Environments'Protection
VN Water Culture
Legends-Water Realm
Useful Books&Maps
VN Sovereignty
Vietnam Energy
Raft Across Pacific
Triết Lư Nước
HảiQuânViệtNam TừBaoGiờ
Hàng Hải Gốc Rễ Việt Nam
Địa Lư Biển Đông
Thuật Ngữ Hàng Hải
NgườiViệt KhámPhá MỹChâu
Ngày HảiQuân1973
Photo Album
Người Thủy Thủ Già
SoạnThảo HảiSử
MộtNgàyVớiĐĐCang
Lược Sử Nước
PhanQuỳnh
NguyễnVănLục
HT Nguyễn Văn Lộc
VũNgọcRuẩn BốTôi
VũVănToàn
ThơVăn HoàngĐ́nhBáu
KỷNiệm ĐờiQuânNgũ
ChiếcB́nh TháiLọ
ChânDung SVSQHQXI
BảoB́nh&H́nhẢnh
Quê Nhà 50 Năm Trở Lại
ChuVănAn2B3-1956

 

 

Tiêu diệt tận gốc văn hóa Việt Nam :
Thủ đoạn của Minh Thành Tổ trong cuộc
chiến tranh xâm lược 1406-1407
 

 

Nguyễn Huệ Chi

 

Nguyên đây là một phần trong thiên khảo luận dài có tên “Cuộc kháng chiến trường kỳ chống xâm lược Minh và văn học yêu nước thế kỷ XV cùng những bước nối tiếp về sau” viết năm 1980, in trong công tŕnh Văn học Cổ cận đại Việt Nam – Từ góc nh́n văn hóa đến các mă nghệ thuật của GS Nguyễn Huệ Chi (NXB Giáo dục, 2013) đă được phê b́nh, giới thiệu trên nhiều trang mạng và báo chí trong nước thời gian gần đây. Diễn Đàn trân trọng cảm ơn GS Nguyễn Huệ Chi đă cho phép trích đăng bài viết đó để giúp bạn đọc nh́n sâu vào một khía cạnh đặc biệt thâm hiểm của Hoàng đế Minh Thành Tổ – kẻ thiết kế toàn bộ kế hoạch đánh chiếm Việt Nam ở đầu thế kỷ XV: âm mưu đồng hóa người Việt bằng một chủ trương rất bài bản và “cao tay”... là lệnh cho quân lính xóa sạch tại chỗ văn hóa tinh thần và vật chất của dân tộc Việt tại những nơi chúng tràn đến như nước lũ. Hầu hết cứ liệu để cập trong bài được rút từ một cuốn sử Trung Quốc – cuốn Việt kiệu thư của sử thần Lư Văn Phượng , soạn năm 1540


Vào năm cuối cùng của thế kỷ XIV, lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam diễn ra một bước ngoặt: Hồ Quư Ly lật đổ ngai vàng của nhà Trần mà thành lập một triều đại mới – triều đại nhà Hồ. 32 năm trước đó, năm 1368, lịch sử chế độ phong kiến Trung Hoa cũng đă từng diễn ra một bước ngoặt: nền thống trị của đế quốc Nguyên – Mông bị phong trào nông dân Trung Quốc đánh đổ; Chu Nguyên Chương nhảy lên ngai vàng với bộ lễ phục của một triều đại mới – triều đại đế quốc Minh. Trước sau 30 năm, trên hai đất nước láng giềng, các ông chủ mới đă lần lượt thế chân các ông chủ cũ. Nhưng t́nh h́nh đó tuyệt không làm thay đổi một chút nào mối quan hệ vốn có. Trái lại, nó chỉ càng làm nặng nề thêm những ǵ trong quá khứ vốn đă quá nặng nề. Những vị Hoàng đế nhà Minh – mới nắm được “ngôi trời” – cảm thấy ḿnh c̣n dư sức, con mắt thèm khát nh́n ngay xuống mảnh đất giàu có phương Nam với ḷng tự tin rằng, ḿnh có thể làm được cái việc “chinh phục” Đại Việt mà những đế chế trước ḿnh đă phải bó tay. Về phía các vua nhà Hồ, cố nhiên họ hiểu rất rơ dă tâm đó của “thiên triều”. Ngay khi vừa lên ngôi, họ đă tích cực chuẩn bị lực lượng quân sự để đối phó. Thế rồi, vào ngày 19 tháng 11 năm 1406, chiến cuộc đă nổ ra, gay gắt, chớp nhoáng. Nhà Hồ thất sách về chính trị và sai lầm chiến thuật về quân sự nên chưa đầy một năm sau đành lâm vào thất bại. Vua Minh lập tức cho đổi trở lại tên Đại Việt thành quận Giao Chỉ, quàng vội ách đô hộ lên khắp nước ta.

Nhưng nhân dân Đại Việt vốn đă có truyền thống hàng ngh́n năm cảnh giác với kẻ thù phương Bắc, đâu dễ dàng cam chịu ngồi yên. Và khi mà Minh Thành Tổ tưởng mọi việc đă xong, ra lệnh cho quân lính sửa soạn rút lui, th́ cũng chính là lúc một phong trào kháng chiến cứu nước của nhân dân bắt đầu trỗi dậy. Rồi từ đó, hết phong trào này đến phong trào khác, cuộc chiến đấu v́ độc lập của xă tắc đă kéo dài hơn 20 năm cho kỳ đến thắng lợi.

*

*     *

Điều cần nói ngay là bộ mặt lịch sử của thế kỷ XV đă hiện ra với tất cả vẻ khốc liệt và dữ dội. Không phải bản thân chiến cuộc 1406 với tầm mức gay gắt của nó quyết định sự dữ dội này. Mấy thế kỷ trước, đám chúa trùm phong kiến Tống, Nguyên chẳng cũng đă mở những cuộc tấn công quy mô xuống Đại Việt, và về so sánh lực lượng, lần tấn công nào của họ mà lại không có cái thế tưởng như áp đảo kinh hồn? Nhưng vấn đề đặt ra trong cuộc xâm lăng lần này là nó nhằm thực hiện một mưu đồ c̣n hiểm sâu hơn cái việc cướp nước, giết dân thông thường, của một tên “Đại Hán” mà sự tàn bạo, xảo quyệt và man rợ trong thời đại của y có thể đứng vào loại nhất nh́ thế giới. Ở tên Đại Hán đó có sự tích lũy tất cả những kinh nghiệm tàn ác của cha ông y trong quá khứ, kết hợp với những mánh khóe ranh ma mới mẻ nhất mà thời đại mới mang lại cho y. Chính v́ vậy, nguy cơ của cuộc xâm lăng lần này đă đặt người dân Đại Việt trước một yêu cầu thức tỉnh toàn diện để có thể đứng vững, hơn thế nữa, để lớn vượt lên. Cuộc đấu tranh giành lại chủ quyền và xây dựng đất nước của các thế hệ cha ông ta trong ṿng hơn 20 năm (1406 - 1427) rơ ràng là một cuộc vật lộn oanh liệt mà kết quả đă tạo ra một bước đổi thay lịch sử phi thuờng. Nắm cho được bộ mặt lịch sử của thế kỷ XV chính là nắm cho được hai điển h́nh đối lập tuyệt đối trong bước đổi thay lịch sử phi thường đó: kẻ thù là kẻ thù mới với những thủ đoạn xưa kia chưa từng thấy, nhưng về mặt mưu đồ và bản chất hiểm ác vẫn chính là hiện thân của những tên xâm lược cũ; và dân tộc ta tuy gắn bó với quá khứ sâu nặng nhưng lại là một dân tộc đang thăng hoa khỏi tầm vóc quá khứ, biểu hiện một sức mạnh hồi sinh.

Ngón đ̣n cổ điển nhất của các vị Hoàng đế phương Bắc trước hết là những âm mưu gây hấn đối với Việt Nam. Về phương diện này, nhà Minh đă tỏ ra không kém cạnh chút nào so với các triều đại cha anh của họ. V́ thế, cũng giống như t́nh h́nh của rất nhiều cuộc “Nam chinh” trong quá khứ, chiến cuộc 1406 thật ra đă được “thiên triều” chuẩn bị chu đáo trước đấy lâu lắm rồi. Vấn đề là về h́nh thức, phải t́m ra một cái cớ thích hợp để mà “sinh sự”, và về thực chất, phải làm sao ḍ thật trúng thực lực của Đại Việt để lượng sức ḿnh. Hai mặt này thường vẫn gắn chặt với nhau, tác động lẫn nhau trong quá tŕnh chuẩn bị âm thầm của họ. Năm 1377, chỉ mới chín năm sau ngày giành được địa vị “con trời”, ông vua Minh đầu tiên đă nóng nảy muốn vin cớ vua Trần Duệ Tông nước ta tử trận trong cuộc thân chinh phương Nam (1377) mà cất quân sang hỏi... “tội” (!). Nhung “hỏi tội” một vị vua v́ “chống nạn cứu dân” mà không may bị chết? Trước lời lẽ cứng rắn của Trần Đ́nh Thâm, sứ giả nước ta, vua Minh đuối lư, không những phải cử người sang dự lễ viếng, mà c̣n đành phải gác lại bao nhiêu mưu kế những toan đem thi thố phen này(1). Dĩ nhiên, gác lại không có nghĩa là xếp bỏ hẳn, mà chỉ là buộc ḷng nén lại những dự định bên trong ngày một sục sôi. Tháng 9 năm 1384, nhân cho quân lính tiến xuống đánh Vân Nam, vua Minh thảo công văn đ̣i nước ta cấp lương cho đạo quân “tiễu phạt” của y. Ta nhân nhượng. Rồi các năm 1385, 1386, vua Minh vẫn đưa ra những yêu sách vô lư, phiền hà. Nào bắt nộp hoạn quan, nào muốn t́m giống cây xứ nóng, thậm chí đ̣i cả voi để “thiên triều” mang đi đánh trận. Năm 1395, Minh c̣n trắng trợn sai bọn Nhâm Hanh Thái sang xin ta giúp 5 vạn quân, 50 con voi và 50 vạn hộc lương với dụng ư chộp bắt sứ giả của ta để kiếm chuyện. Nhưng Nhâm Hanh Thái lại mật báo cho ta biết trước, v́ thế ta đă kịp thời đề pḥng, chỉ cho chở một ít lương lên biên giới rồi rút về ngay chứ không cấp lính và voi.

Một vài ví dụ như trên cũng đủ thấy tên lănh chúa phong kiến phương Bắc mới phất lên này nóng ḷng ḍm ngó Đại Việt đến đâu. Nhưng mặt khác, một thực tế cũng dễ thấy là mặc dù rất tham lam, các ngài ngự “Đại Minh” vẫn phải kéo dài việc chuẩn bị xâm lược suốt 30 năm, từ đời vua cha đến đời vua cháu(2). V́ sao có cái mâu thuẫn hết sức lạ đời đó? Chắc hẳn trong khi rút kinh nghiệm quá khứ, bài học thảm bại chưa xa xôi ǵ của những kẻ “đi trước” đă không khỏi làm cho các ngài đâm ra e ngại, trùng tŕnh: “Nước An Nam tuy ở góc biển nhưng xưa kia đă là quận huyện của Trung Quốc. Từ đời Ngũ quư về sau sức ta không c̣n chế ngự nổi họ. Qua Tống đến Nguyên, tuy muốn mưu đồ nhưng không thành, chỉ để tiếng chê cười cho hậu thế”(3). Đấy là lời thú nhận của Minh Thành Tổ trong sắc chỉ y gửi viên Tổng binh Chu Năng – viên tướng đầu tiên cầm quân sang đánh Đại Việt theo lệnh của y – đề ngày 1 tháng 8 năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406). Cũng ở sắc chỉ đó c̣n nêu một lời nhận xét của Minh Thành Tổ về nguyên nhân thất bại của Tống và Nguyên: “Tống cũng như Nguyên đều cho quân sang đánh An Nam, nhưng tướng th́ kiêu, binh th́ lười, lại c̣n tham tài hiếu sắc, v́ thế mà không thành”(4). Sự thật th́ tuy làm ra vẻ cười ngạo tổ tiên ḿnh, ông Hoàng đế khét tiếng về tham vọng và tàn bạo này cũng chẳng can đảm hơn bao nhiêu trên vấn đề xâm lược Việt Nam. Năm 1403, bốn năm sau khi Hồ Quư Ly đă cướp ngôi nhà Trần, t́nh h́nh mâu thuẫn và bế tắc trong tập đoàn phong kiến Trần – Hồ không những không giải quyết được mà c̣n thêm gay gắt, cái cớ gây hấn đă có thể kiếm ra rất dễ, điều kiện gây hấn cũng đă hết sức thuận lợi; lại cũng là năm Minh Thành Tổ vừa dùng mọi thủ đoạn đoạt được ngôi từ trong tay cháu ruột của ḿnh; ấy thế mà đối với nước ta, ông ta vẫn sợ và gờm, chỉ mới dám cho bọn hoạn quan người Việt trở về làm do thám một lần cuối, và chuẩn bị nội ứng, ước hẹn ngoài đánh vào th́ trong cắm cờ vàng làm hiệu. Thế rồi, phải ba năm sau nữa, khi mọi yêu cầu t́m hiểu đă được đáp ứng đầy đủ, cảm thấy không c̣n một trở ngại nào đáng kể trên con đường tiến xuống kinh đô Đại Việt, Minh Thành Tổ bấy giờ mới thật quyết tâm khởi thế công. Một mặt, ông ta vờ làm to chuyện lên rằng đến lúc này không ai c̣n chịu đựng nổi những việc Hồ Quư Ly truất ngôi các vị vua Trần và giết hại đám con cháu nhà Trần (vốn là việc đă xảy ra sáu, bảy năm về trước!): “Bề tôi [cũ của họ Trần] là [Lê] Quư Ly và Lê [Hán] Thương từ lâu nuôi ḷng lang sói, rốt cuộc làm việc cắn càn, ra tay thí nghịch quốc vương, tàn sát người trong ḍng họ Trần, cả những bề tôi của họ Trần cũng trong ṿng thảm khốc, bị hăm vào chỗ chết. Bọn chúng gieo đau khổ cho sinh dân, đến gà chó cũng không yên sống, tiếng hờn oán dấy lên đầy đường”(5). Mặt khác, với ngón bịp sở trường từ tổ tiên ḿnh truyền lại, ông ta lại cũng ra điều ta đây bất nhẫn, không định gây việc can qua làm ǵ, chỉ v́ Hồ Quư Ly quá lắm nên phải động binh; song động binh mà vẫn rất nhân từ, muốn thu xếp ổn thoả bằng cách cho cha con họ Hồ “đem trăm vạn lạng vàng và một trăm con voi ra chuộc tội. Nếu không đủ th́ cho phép đem châu ngọc bảo bối thế vào cho đủ. Có thế đại quân mới không tiến sang”(6). Kỳ thực, có đúng thế hay không? Trong đạo sắc bí mật gồm 10 điều căn dặn riêng viên Tổng binh Chu Năng – gửi mấy ngày trước ngày ban bố tờ chiếu công khai trên đây – Minh Thành Tổ đă thổ lộ “can tràng” của ông ta: “Nay sai Chu Khuyến, Trương Anh đem công văn của Bộ Lễ sang An Nam đ̣i nộp voi và vàng. Làm kế ấy để cho chí chiến đấu của chúng buông lỏng chứ không phải là thực bụng. Khi bọn Chu Khuyến ra đi, trẫm từng gặp mặt phủ dụ, bảo chúng đến nuớc họ chỉ ở lại 5 ngày, nếu 5 ngày chưa xong th́ cho phép được bao nhiêu hăy cứ nộp truớc, sau sẽ sai người mang tiếp sang nộp cho đủ. Ngươi chờ cho bọn Chu Khuyến đi rồi th́ đại quân phải tức khắc xuất phát theo sau. Nếu gặp kẻ đuợc phái sang nộp voi và vàng th́ cứ bắt giữ lại để tra hỏi tin tức, nhưng đừng hở cho họ biết kẻ sai đi đă bị bắt... Nay bọn Chu Khuyến vào nước đó, mọi việc ngươi nhất thiết chớ hở ra cho ai biết”(7).

Gớm ghê thay miệng lưỡi từ bi và ḷng dạ thực của đấng “thiên tử”! Duy có điều là ngay cả vào lúc đó rồi mà ngài vẫn c̣n e dè gửi tiếp những sắc chỉ căn dặn: nào là “nước An Nam giàu mạnh đă lâu”(8), nào là “quân lính của họ tất có pḥng bị trước”, nào là “cha con họ Lê – tức họ Hồ – lắm mưu mẹo giảo quyệt”, tuyệt nhiên không thể sơ hở hoặc xem thường. Trong nhiều đạo sắc, Minh Thành Tổ đều tỏ ư lo lắng khi quân ḿnh vượt sông Phú Lương là chỗ hiểm yếu bậc nhất, sẽ thua mưu kế của Hồ Quư Ly. Y viết rơ trong một sắc chỉ đề ngày 14 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1407) nói về đạo binh của Trương Phụ: “Cứ đóng quân măi trên sông giằng co với giặc chính là rơi vào mưu kế của giặc Lê [Quư Ly] nhằm giữ chân quân ta thật lâu, đợi cho dịch lệ phát sinh; v́ thế phá được mưu này th́ phải thần tốc không được tŕ hoăn”(9).

Rơ ràng, vừa khát thèm lại vừa e sợ, vừa hung hăng lại vừa lo ngại, vừa ráo riết sửa soạn lại vừa trù trừ cho đến tận phút cuối cùng, cuộc chiến tranh xâm lược của giặc Minh ở thế kỷ XV quả đă không c̣n là ngón đ̣n mới mẻ ǵ đối với nhân dân Việt Nam. Bước ra quân ban đầu của “thiên triều” phải mang tính chất hai mặt: nhanh mà chậm, nóng mà lạnh, đánh thực mà cũng là đánh dứ, cũng chính là v́ vậy.

*

*    *

Tuy nhiên, đấy chỉ là cái dè dặt của buổi ban đầu. Khi đă dấn sâu vào đất nước ta, thấy rơ chỗ thất thế của nhà Hồ, bọn giặc xâm lược liền lộ hết vuốt nanh và hành vi táo tợn. Một chiến lược tập kích ồ ạt nhằm phá vỡ pḥng tuyến chính để tiến thẳng đến Thăng Long, và từ Thăng Long đánh toả xuống phía Nam, được thi hành. Một chế độ thống trị ngoại bang được dựng lên chớp nhoáng ở khắp mọi miền, thành thị cũng như nông thôn mà chúng vừa đặt chân đến. Và một chính sách chém giết thẳng tay cũng được đem ra ban phát lập tức cho dân chúng. “Trương Phụ đi đến đâu là giết hại, hoặc chất thây người thành núi, hoặc rút ruột người quấn vào cây, hoặc rán thịt người lấy mỡ, hoặc làm nhục h́nh bào lạc để mua vui. Thậm chí có kẻ mổ bụng người chửa, moi thai, cắt lấy tai của mẹ và con để tính làm hai mạng người”(10).

Có thể nói, nói đến đặc điểm thứ hai trong chân dung của tên xâm lược mới ở thế kỷ XV là nói đến h́nh ảnh các viên quan cai trị nhà binh với tất cả những thủ đoạn giết người – trị người – dùng người gắn bó với nhau một cách tinh vi và nham hiểm. Sau nhiều lần cố gắng phản công ở Hàm Tử, Lỗi Giang, Điển Canh, Kỳ La,... nhưng đều thất bại, vào tháng 6 năm 1407, nhà Hồ cùng quẫn và bị bắt ở núi Thiên Cầm. Cả nước rơi vào tay giặc, và trở thành một ḷ sát sinh, một công trường lao dịch khổ sai, một nơi để giặc Minh thoả sức t́m ṭi thức ngon của quư. Ngay trong những ngày đang trên đường tiến sang nước ta, bọn tướng tá viễn chinh đă nhận được sắc chỉ của vua Minh căn dặn hễ đến đâu là phải tịch thu hết giấy tờ, sổ sách kê khai nhân khẩu và ruộng đất đến đấy; phải lập ngay chế độ thuế khóa trên những vùng vừa chiếm đóng; và chú ư khai thác các mỏ bạc, mỏ vàng. Kể cả những mỏ nằm trên biên giới Việt – Chiêm, chưa rơ thuộc phần đất bên nào, cũng được lệnh cứ cướp lấy chứ không cần tra xét hư thực(11). Hai cơ quan Kim trường cục và Châu trường cục được thành lập, nhằm xua dân miền biển và miền núi vào mọi công việc đăi vàng, ṃ vàng, ṃ ngọc. Chưa hết. C̣n chế độ lao dịch ở đồng quê, ở thành thị... Đâu đâu cũng cái cảnh “bị người Minh sai khiến mà mất cả gia thuộc”(12), “bị bắt hết làm nô tỳ và chuyển bán đi mà tan tác bốn phương” (13).

Đẩy nhân dân Đại Việt đến chân tường, giặc Minh phải đâu đă thoả. Chúng c̣n t́m cách thâu tóm vào tay ḿnh hoặc nếu không th́ triệt cho hết trong đám người c̣n sống sót những ai thật sự có tài năng. Hễ nghe ở đâu trong các châu quận nước ta có thầy hay, thợ giỏi, bọn quan cai trị đều cho lập danh sách đem “tiến” về Yên Kinh. Các loại người bị tiến nhiều nhất là thầy thuốc, thợ thủ công, ca nữ tuyệt sắc, thầy bói và thầy địa lư;...

Mỗi năm Minh hoàng lại gửi sang một lệnh. Mỗi năm, hàng ngh́n người dân Việt lại ĺa bỏ gia đ́nh xứ sở, ra đi, để rồi không bao giờ trở về.

Nhưng cho dù có t́m mọi mưu kế bắt và giết người dần ṃn để bổ sung cho những cuộc tàn sát hàng loạt th́ vẫn không thể nào là kế sách cai trị vẹn toàn. Giặc Minh biết vậy nên cũng lại ra sức thi hành một chính sách “mặt trái” rất khôn khéo: chính sách mỵ dân. Trong một đạo sắc, vua Minh khẩn khoản dặn đám tướng tá: hễ người dân Việt nào chống lại th́ diệt kỳ sạch, nhưng ai đă đầu hàng th́ phải tha ra, không giết bừa(14). Tưởng chừng đại Hoàng đế ngài nhân từ có một. Có ngờ đâu, tha, theo ư ngài, là bắt đem “cung h́nh” (thiến) nhất là đối với lớp người Việt trẻ(15), sau đó cung cấp cho cái chế độ quan liêu đồ sộ của Minh hoàng vốn đang rất thiếu nô bộc và thái giám hầu hạ!

Đặc biệt, trong chính sách dùng người, nhà Minh đă tỏ rơ khả năng vượt hơn những kẻ xâm lược xưa kia một bước rất dài. Trừ những chức quan cao cấp ra, chúng đặt người Việt vào mọi địa vị quan chức từ quận, huyện trở xuống. Và một chính sách lục dụng đám trí thức, quan lại cũ của Đại Việt được ban bố trong rất nhiều đạo sắc từ 1406 đến măi những năm sau khi khởi nghĩa Lam Sơn đă nổi dậy, có thể nói là nhiều nhất trong số sắc chỉ của các vua Minh về vấn đề Việt Nam. Đây quả là một đường lối mà nhà Minh kiên nhẫn theo đuổi đến cùng. Có trường hợp những người có tên tuổi, hoặc có ảnh hưởng trong dân chúng như Nguyễn Cảnh Chân, Đặng Tất, Phạm Thế Căng, Trần Nhật Chiêu, Trần Thúc Dao,... chính vua Minh trực tiếp chỉ thị phải dụ dỗ cho bằng được(16). Có trường hợp khác như Bùi Bá Kỳ, bọn quan lại dưới quyền sơ ư để đến nỗi ông ta từ chỗ chạy sang Minh cầu cứu đến chỗ mất hết ḷng tin tưởng, vua Minh cũng trực tiếp xuống chỉ rút kinh nghiệm về việc “dùng người” và than thở không thôi(17). Sự chu đáo trong chính sách “chiêu hồi” này c̣n biểu hiện ở cung cách chiêu hồi: tất cả đều được lập thành danh sách, mời về Yên Kinh khoản đăi và để cho bọn quan lại cao cấp nhà Minh chủ yếu là Hoàng đế “bồi dưỡng về lập trường quan điểm”, rồi sau đấy lại được trả trở về Giao Chỉ, phân bổ đi nhận các chức quan(18).

Nhưng thủ đoạn mỵ dân mà nhà Minh lưu tâm hàng đầu – và từ đây cũng sẽ đẻ ra nhiều nhiệm vụ phức tạp cho cuộc đấu tranh chính trị chống xâm lược – chính là một phương sách hai mặt: vừa triệt để thống nhất về bản chất với những tên xâm lược trong quá khứ, lại vừa làm ra vẻ giữa ḿnh và quá khứ có một bước ly khai. Ngay trong đạo sắc 10 điều của Minh Thành Tổ đề ngày 8 tháng 7 năm Vĩnh Lạc thứ 4 (21.8.1406) gửi viên tướng viễn chinh Chu Năng trên đường y cất quân sang Đại Việt, đă dẫn một phần ở trên, có một điều thứ tư rất đáng chú ư: “Hỏi xem cột đồng trụ hiện dựng ở đâu, phải đập cho nát và ném ra ngoài đường, để cho nguời trong nước đều trông thấy”(19). Chắc ai cũng phải lấy làm lạ: một bằng chứng “chinh phục” tiếng tăm của Mă Phục Ba thời Hán, cũng là một dấu vết của sự sỉ nhục mà người Việt nhiều đời đă phải ném đá chồng lên cho mất tích, ấy thế mà vua Minh lại bắt phá đi? Ông ta hớ hênh dại dột, hay ngông cuồng, hay thật bụng nhân đức? Đâu có phải vậy! Thực t́nh Minh Thành Tổ coi đây là một việc hệ trọng, và trong những sắc chỉ ban bố một năm sau đó, ông ta c̣n nhắc lại điều này(20). Dám hy sinh đến cả “sự nghiệp” vênh vang của “tiền nhân”, phải chăng tên đầu sỏ xâm lược ở thế kỷ XV muốn nhờ đấy đánh đổi lấy một bộ mặt mới, chí ít cũng giúp y che giấu phần nào cái bản chất “một đồng một cốt” giữa y với Mă Viện, để y có thể thừa cơ tung hoành? Có lẽ! Nhưng chắc chắn c̣n những lư do thâm trầm hơn. Kinh nghiệm xương máu đă cho tên trùm Đại Hán thấy, đụng đầu vào xứ sở Đại Việt quả là điều gay. Một cột đồng trụ những tưởng nhục mạ được dân Nam và trói chặt họ vào một cái mốc “chiến bại”, th́ rốt cuộc cũng có nghĩa ǵ đâu khi mà, vượt lên trên tất cả những thứ cột mốc h́nh thức kia, một quy luật lịch sử lạnh lùng – mà ngay nhiều tên xâm lược cũng phải đành ḷng thừa nhận – cứ tự nó phát huy tác dụng: “... dù có cướp được nước họ th́ rồi cũng không thể giữ được”(21). Có nghĩa là chỗ khó khăn nhất, mà quả là khó, là làm sao biến được dân tộc Việt thành người Trung Quốc, để vĩnh viễn họ không c̣n t́m cách nổi dậy, và đất nước họ vĩnh viễn là quận huyện của “thiên triều”? Thủ đoạn đập phá cột đồng trụ của Minh Thành Tổ chính là một cách lư giải mới đối với bài tính nát óc này. Y quyết tâm phủ nhận những ràng buộc vô hiệu bề ngoài mà t́m kiếm những ràng buộc lợi hại hơn hẳn. Đó là những trói buộc nghiệt ngă trên lĩnh vực tư tưởng, những quy định có tính chất chuyên chế, độc đoán về sinh hoạt tinh thần.

Lần đầu tiên, trong lịch sử xâm lược Đại Việt của bọn chúa tể phong kiến Trung Quốc, tên xâm lược nhà Minh áp đặt một cách gay gắt vấn đề hệ tư tưởng đối với xă hội Việt Nam. Trong bản bố cáo đề ngày 8 tháng Tư năm 1407, sau khi chiếm xong nước ta, Minh Thành Tổ dành hẳn một đoạn khá văn hoa để nhấn mạnh rằng, một trong những tội trạng của Hồ Quư Ly khiến “ngài” không thể không “chinh thảo”, là họ Hồ đă tự coi “đạo của ḿnh hơn cả Tam vương, đức cao hơn Ngũ đế, cho Vũ, Thang, Văn Vương, Vũ Vương không đủ để noi theo, Chu Công Khổng Tử không đáng làm thầy ḿnh, giễu Mạnh Tử là nhà nho ăn cắp, nhạo Chu [Đôn Di], Tŕnh [Hiệu, Tŕnh Di], Truơng [Tải], Chu [Hy] là phường trộm cướp”(22), v.v. Cơn giận của “ngài” kể cũng dễ hiểu, bởi một nước tự xưng là “thần tử” của Hoa hạ làm sao có thể dám coi thường cái đạo mà các Đại Hoàng đế Trung Quốc tôn thờ? Nhưng c̣n một lẽ sâu xa nữa là có đưa đạo Nho lên làm “đạo thống” th́ mới dễ dàng phát huy ảnh hưởng của “thiên triều” tới các cơi xa, nói như họ Khổng là “làm cho xa thư về một mối”. Và khi đă “gắn bó với nhau về ư thức hệ” th́ há miệng mắc quai, cúi mọp đầu không dám phản kháng là điều dễ hiểu.

Dù sao, vấn đề không chỉ giản đơn có vậy. Minh Thành Tổ muốn lấy đạo Nho để thống trị nhân dân Đại Việt, nhưng rồi y lại c̣n muốn đi xa hơn. Cuồng vọng bá chủ sôi sục khiến y cảm thấy như thế vẫn chưa thoả ḷng. Tốt nhất là làm sao cho nước “man di” kia không c̣n có ǵ gọi là long mạch tư tưởng, tinh thần. Y muốn xóa sạch ở cái dân tộc nhỏ bé phương Nam đầy sức tự cường mà trong ḷng nhiều thế hệ những tên giặc Bắc vẫn rất khiếp sợ, toàn bộ ư thức về quá khứ lịch sử của chính họ. Mà xóa sạch được quá khứ của một dân tộc chính là cách cắt đứt nguồn tiếp sức quan trọng của dân tộc đó, đặt họ vào chỗ mù mịt tối tăm, phá tan đi cái nền tảng làm cho họ tồn tại và sinh thành. Muốn vậy phải làm thế nào? Không có cách nào hữu hiệu hơn là tàn phá không thương tiếc tất cả những ǵ là sản phẩm trí tuệ của dân tộc này, nó là biểu trưng cho văn minh, văn hóa. Trong sắc chỉ 10 điều của Minh Thành Tổ gửi Tổng binh Chu Năng đă nói ở trên, bên cạnh những điều căn dặn tỉ mỉ về cách chế ngự “hoả khí” lợi hại của cha con họ Hồ, về việc tịch thu sổ sách kê khai nhân khẩu và ruộng đất, hoặc đập phá cột đồng trụ,... c̣n một điều đặc biệt hơn mọi điều kia: “Một khi binh lính vào nước Nam, trừ các sách kinh và bản in của đạo Phật, đạo Lăo th́ không thiêu hủy; ngoài ra hết thảy mọi sách vở văn tự, cho đến cả những loại [sách] ca lư dân gian, hay sách dạy trẻ, như loại sách có câu “Thượng đại nhân, khưu ất dĩ” một mảnh một chữ đều phải đốt hết. Khắp trong nước phàm những bia do Trung Quốc dựng từ xưa đến nay th́ đều giữ ǵn cẩn thận, c̣n các bia do An Nam dựng th́ phá sạch hết thảy, một mảnh một chữ chớ để c̣n(23).

Thử lần t́m cái động cơ chính ẩn trong đạo sắc văn này. Tên vua Minh nói: tất cả những ǵ thuộc nền văn hóa chính quốc Trung Hoa, kể cả sách kinh của Phật và Lăo, đều được giữ lại đầy đủ. Trái lại, bao nhiêu trước tác thuần túy Việt Nam th́ đều phải phá hủy. Vậy ra, sự lựa chọn của y chẳng phải là đạo Nho hay một hệ tư tưởng chính thống nào cả. Đối với người Giao Chỉ cũng như các dân tộc bị y xâm lược, y chỉ cần một sự lựa chọn đơn giản, mà lại thực dụng hơn nhiều: hăy bắt họ từ bỏ tất cả những ǵ sinh ra trong đầu óc của chính dân tộc họ kể cả trong quá tŕnh tiếp nhận những ǵ là vốn liếng tinh thần của “nước mẹ Đại Minh”. Ư hẳn Hoàng đế nhà Minh muốn bắt các dân tộc thôi đừng có tự ḿnh tư tưởng nữa. Mà không tư tưởng, th́ có nghĩa là... không tồn tại.

Thế rồi, từ trong thâm cung tại Yên Kinh, Hoàng đế nhà Minh ngày đêm lo theo dơi, đôn đốc việc thi hành lệnh chỉ đă ban ra. Đến nỗi khi thấy có một bộ phận quân lính không chịu làm theo đúng lệnh, nghĩa là không đốt ngay sách vở cướp được của nước ta mà c̣n giữ lại, y lập tức gửi một tờ lệnh thứ hai nhắc lại đúng những điều đă chỉ thị từ trước, lại giải thích rơ v́ sao cần đốt ngay tại chỗ chứ không nên giữ lại: “Nhiều lần đă bảo các ngươi rằng phàm An Nam có tất thảy những sách vở văn tự ǵ, kể cả các câu ca lư dân gian, các sách dạy trẻ, như loại “Thượng đại nhân, khưu ất dĩ” một mảnh một chữ đều phải đốt hết, và tất thảy các bia mà xứ ấy dựng lên th́ một mảnh một chữ hễ trông thấy là phá hủy lập tức, chớ để sót lại. Nay nghe nói những sách vở do quân lính bắt được, không ra lệnh đốt ngay, lại để xem xét rồi mới đốt. Quân lính phần đông không biết chữ, nếu đâu đâu cũng đều làm vậy th́ khi đài tải sẽ mất mát nhiều. Từ nay các ngươi phải làm đúng như lời sắc trước, truyền cho quân lính hễ thấy sách vở văn tự ở bất kỳ nơi nào là phải đốt ngay, không được lưu lại(24).

Dĩ nhiên, ngay những tên đă trù mưu định kế ăn cướp nước ta cũng cảm thấy một chủ trương tàn bạo như thế thực muôn phần nguy hiểm. Nó sẽ dẫn đến làm nổ bùng ḷng căm phẫn ngút trời của cả một dân tộc, và sức mạnh có tính dây chuyền của sự bùng nổ đó chắc sẽ gây nên những hậu quả khôn lường. Cũng v́ thế, đi kèm với những điều lệnh, Minh Thành Tổ c̣n bắt quân lính phải giữ thật kín chủ trương của ḿnh. Sau gần một năm đốt phá, biết rằng yêu cầu của việc phá hoại về căn bản đă xong, ngày 19 tháng Năm năm Vĩnh Lạc thứ 5 (25 - 6 - 1407), y lại gửi một sắc chỉ xuống phương Nam ra lệnh cho các tướng lĩnh của y phải cấp tốc thu hồi những đạo dụ y đă ban ra từ trước: “Nay An Nam đă b́nh định xong; [...] trừ các loại chế dụ ra c̣n th́ tất cả các đạo sắc viết tay và các kư sự thư thiếp, đă từng phát đi từ trước, cùng với sổ ghi chép mà Thành quốc công đă lĩnh, hoặc các thứ [sổ sách] trù nghị mọi việc, đều phải đem toàn số kiểm kê, đối chiếu, niêm phong cẩn mật, gửi trả lại, không cho lưu lại một chữ. Nếu có một chữ bỏ lại, rơi vào tay bọn kia(25) th́ rất bất tiện(26).

Tưởng cũng khó có thể chê trách ǵ về sự cao tay của Minh Thành Tổ trong việc xếp đặt đâu ra đấy từng bước “tiến”, “thoái”, “thắt”, “cởi” cho mọi hành động tàn phá kinh khủng nhất của ḿnh. Nếu nghệ thuật diệt chủng của y thâm thúy đến mức đẩy đối tượng bị tiêu diệt vào một t́nh trạng trống rỗng, hư vô, không c̣n quá khứ cũng không c̣n tương lai, nghĩa là cứ dần dần “tự diệt”, th́ nghệ thuật xóa dấu vết của y cũng tinh vi đến mức y vừa ăn cướp lại vừa có thể hùng hổ la làng rằng bị cướp đe dọa. Âu đây chính là những dáng nét hiện đại nhất của tên xâm lược Đại Hán ở thế kỷ XV vốn sẵn có trong ḿnh cái bản chất xâm lược dă man của nhiều thế hệ cha ông đă thấm vào máu thịt; là cái được nhân lên, biến hóa sinh động hơn những thủ đoạn cướp đất giết dân hôm qua hôm kia c̣n rất quen thuộc mà nay đă bị xem là quá cổ lỗ và thật thà.

N.H.C.

Chú thích:

Những chú thích dưới đây, so với bản in lần đầu của bài này (ngày 14.9.2013), đă được chỉnh sửa theo chỉ dẫn của tác giả, thống nhất theo bản Việt kiệu thư của viện Viễn Đông bác cổ thời Pháp, nay là Thư viện Viện Khoa học xă hội (xem chú thích số 1., bài Sách Việt kiệu thư trong con mắt giới sử học đương đại). Diễn Đàn.

(1) Xem Đại Việt sử kư toàn thư, Tập II, Cao Huy Giu dịch, NXB Khoa học xă hội, in lần thứ hai, H., 1971; tr. 189.

(2) Thật ra, khi cháu Minh Thái Tổ lên nối ngôi th́ chú y, tức Chu Đệ 朱棣 liền cướp lấy mà lập ra triều đại thứ ba của nhà Minh (1402 - 1424), tức Minh Thành Tổ.

(3) Lư Văn Phượng , Việt kiệu thư (1540). Đây là một tài liệu quư, ghi chép khá đủ theo trật tự thời gian những đạo sắc chỉ của Minh Thành Tổ gửi đều đặn (thường là vài ngày một đạo) đến các tướng chỉ huy trong cuộc xâm lăng Đại Việt 1406-1407. Trước đây chúng tôi chỉ tham khảo duy nhất cuốn sách này của Thư viện Viện Khoa học xă hội vốn là sách của Viện Viễn Đông bác cổ Pháp cũ, kư hiệu: 1731, (nay thay đổi kư hiệu là: VH. 000276 - HV. 000281), nhưng năm 2001, sang làm việc ở Thư viện Yenching Harvard, t́m thêm được văn bản do Tề Lỗ thư xă xuất bản, Nam Kinh, 1996. Tuy vậy, trong bài này, vẫn xin ghi chú số quyển và trang và theo bản của Thư viện Viện Khoa học xă hội để cho thống nhất. VH. 000276, Q. 2, tờ 19a: 。自 。五 。歷 。貽 (Kim An Nam tuy tại hải tưu, tự tích vi Trung Quốc quận huyện. Ngũ quư dĩ lai lực bất năng chế. Lịch Tống cập Nguyên tuy dục đồ chi nhi công vô sở thành, di tiếu hậu thế).

(4) Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 20a (Điều ghi chú thứ 9 trong 18 điều khoản kèm theo tờ sắc này): 南。將 懦。貪 色。以 (Tống Nguyên giai phát binh chinh thảo An Nam, tướng kiêu binh nọa, tham tài hiếu sắc, dĩ thử bất năng thành).

(5) “Chiếu bá cáo thiên hạ về việc b́nh định An Nam”, đề ngày 1 tháng Ba năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407). Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 27b. Nguyên văn: 。竟 。舉 王。 宗。覃 。掊 。毒 。雞 。怨 (Kỳ thần [Lê ] Quư Ly, Lê [Hán] Thương cửu súc hổ lang chi tâm, cánh vi thôn phệ chi, cử thí kỳ quốc vương, thương kỳ bản tông, đàm bị bồi thần trọng duy thảm khốc, bồi khắc sát lục, độc bệnh sinh dân, kê khuyển phất ninh, oán thanh tái lộ).

(6) Sắc chỉ đề ngày 29 tháng Bảy năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406). Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 18a. Nguyên văn: 西 。安 。原 。只 。象 。許 。以 。大 (Kim Quảng Tây tấu: An Nam khiển nhân lai cống tạ tội. Nguyên Hồ yêm, phụ tử tội bản nan dung. Kim kư cải quá tự tân, chỉ trước tha biện hoàng kim ngũ vạn, tượng nhất bách chích, dĩ thục kỳ tội. Kim tượng bất túc, hứa dĩ châu ngọc bảo bối đại chi, dĩ túc kỳ số tức chỉ, đại quân bất tiến).

(7) Điều thứ 10 trong 10 điều căn dặn trong đạo sắc chỉ bí mật, xếp sát ngay sau đạo sắt đề ngày 4 tháng Bảy nhuận năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406). Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 17b: 象。此 計蓋 鬥志。非 。今 到彼 。若 辨不 。爾 。大 軍隨 後亦 。訖 令彼 。今 。爾 (Kim khiển Chu Khuyến, Trương Anh tu Lễ bộ tu văn văng An Nam sách kỳ kim tượng. Thử kế cái dục thỉ kỳ đấu chí, phi chân thực ư dă. Chu Khuyến đẳng lâm hành, trẫm tằng diện dụ chi, kim đáo bỉ chỉ trú ngũ nhật. Nhược ngũ nhật nội thố biện bất túc, hứa tùy đa thiểu tiên tương lai, hậu khước sai nhân nạp túc. Nhĩ đăi Chu Khuyến đẳng nhân khứ, đại quân tùy hậu diệc tiến. Nhuợc ngộ sai xuất nạp kim tượng chi nhân tựu chấp chi, cật vấn thanh tức. Tu vật linh bỉ tri sai lai bị chấp. Kim Chu Khuyến đẳng đáo xứ, nhĩ sự cơ thiết bất khả linh nhân tri chi).

(8) Sắc chỉ ngày 1 tháng Tám năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406). Việt kiệu thư, Q. 2, Sđd tờ 20a: [。。 ] 。其 (An Nam tự ngă triều dĩ lai, [...] sổ thập niên bất tằng dụng binh, kỳ quốc trung phú thứ).

(9) Sắc chỉ đề ngày 14 tháng 12 năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1407), Việt kiệu thư, Sđd; Q.2, tờ 24a. Nguyên văn: 。黎 。破 。不 (Đốn binh giang thượng dữ tặc tương tŕ, Lê tặc chi kế chính dục tŕ cửu dĩ đăi chướng lệ phát. Phá chi quư tại thần tốc, bất nghi tŕ hoăn).

(10) Đại Việt sử kư toàn thư, Tập II, Cao Huy Giu dịch, 1971, Sđd; tr. 262.

(11) Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2, tờ 22a đề rơ, ngày 6 tháng Chín năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406), Minh Thành Tổ ban hành một điều khoản như sau: 。銀 。亦 。平 。只 。縱 (An Nam kim trường, ngân trường dao văn nguyên thị Chiêm Thành chi địa, nhi giới tương tranh dĩ cửu, diệc vị khả tín. B́nh định chi hậu, chỉ dĩ kiến đắc địa giới vi chuẩn. Túng nhiên Chiêm Thành hữu thỉnh, diệc bất khả nghĩ hoàn). Nghĩa là: Từ xa trẫm nghe nói mỏ vàng mỏ bạc nguyên là phần đất Chiêm Thành, địa giới hai bên tranh chấp đă lâu, cũng chưa rơ thế nào. Sau khi b́nh định xong, cứ lấy địa giới mà ḿnh trông thấy làm chuẩn, nếu Chiêm Thành có cầu xin cũng không trả.

(12), (13) Đại Việt sử kư toàn thư, Tập II, Cao Huy Giu dịch, 1971, Sđd; tr. 250, 262.

(14) Sắc chỉ đề ngày 4 tháng Mười một năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 23b. Nguyên văn: 。但 甲卻 。一 (Đại quân nhập An Nam, đăn hữu trợ Lê khấu lai cự địch giả, sát chi. Nhược hữu năng khí giáp khước qua hàng giả, nhất nhân bất khả vơng sát).

(15) Sắc chỉ đề ngày 16 tháng Chín năm Vĩnh Lạc thứ 4 (1406), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 22b. Nguyên văn: 。宜 。亦 。他 使 (Kỳ hữu niên thiếu nhi tội đáng tử giả, nghi xử dĩ cung h́nh, diệc khả dĩ bảo toàn kỳ mệnh, tha nhật hựu đắc dĩ khắc sử lệnh).

(16) Sắc chỉ đề ngày 29 tháng Chín năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Việt kiệu thư, Q. 2, Sđd; tờ 37b.

(17) Sắc chỉ đề ngày 20 tháng Ba năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 29b. Nguyên văn: 。道 。一 。朕 。古 。爾 (Sắc truyền tấu ngôn Bùi Bá Kỳ sự vi tương chi. Đạo tại ư dụng nhân, nhất Bùi Bá Kỳ bất năng dụng, hà dĩ năng thành sự công hiệp? Trẫm hữu Nam bỉ hựu ưu. Cổ nhân dụng nhân chi pháp cụ hữu phương sách, nhĩ nghi thẩm quan cố sắc).

(18) Sắc chỉ đề ngày 22 tháng Giêng năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Việt kiệu thư, Q. 2, Sđd; tờ 25b - 26a. Nguyên văn: 。即 。聽 。給 。如 。隨 。不 (Phàm An Nam quan lại lai quy hàng giả, tức lục tục khiển chi lai triều, thính trẫm diện dụ, cấp dữ ấn tín, tỷ hoàn quản sự. Nhu hoặc sự thế vị khả hựu tại, tùy nghi xử trí, bất khả chấp nhất).

(19) Điều thứ tư trong Sắc chỉ bí mật, đề ngày 4 tháng Bảy nhuận năm Vĩnh Lạc thứ 4 (21.8.1406), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 17a. Nguyên văn: 便 之。 (Phỏng vấn cổ thời đồng trụ sở tại, diệc tiện toái chi, uỷ chi ư đạo dĩ thị quốc nhân).

(20) Điều ghi thêm thứ hai trong Sắc chỉ đề ngày 9 tháng Giêng năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 25b.

(21) Trích thư bọc sáp của tướng Minh Vương Thông gửi về nước năm 1427. Một viên quan cai trị khác của nhà Minh là Giải Tấn cũng từng tâu lên vua Minh những lời tương tự. Xem Đại Việt sử kư toàn thư, Tập III, Cao Huy Giu dịch, NXB Khoa học xă hội, in lần thứ hai, H., 1972; tr. 47.

(22) “Chiếu bá cáo thiên hạ về việc b́nh định An Nam”, đề ngày 1 tháng Ba năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 27b. Nguyên văn: 。以 。周 。毀 。謗 。欺 。無 (... tự dĩ vi đạo ưu ư Tam vương, đức cao ư Ngũ đế, dĩ Vũ Thang Văn Vũ bất túc pháp, Chu Công Khổng Tử vi bất túc sư, hủy Mạnh Tử vi đạo Nho, báng Chu Tŕnh Trương Chu vi phiếu thiết. Khi thánh khi thiên, vô luân vô lư).

(23) Sắc chỉ bí mật, ban bố 10 điều cho quân lính tuân theo, xếp thứ tự ngay sau đạo sắc đề ngày 4 tháng Bảy nhuận năm Vĩnh Lạc thứ 4 (21.8.1406). Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 16a - 17b. Nguyên văn: 。除 。外 。如 。片 。其 (Binh nhập, trừ Thích, Đạo kinh bản kinh văn bất hủy. Ngoại nhất thiết thư bản văn tự dĩ chí lư tục đồng mông sở tập, như “Thượng đại nhân Khưu ất dĩ” chi loại, phiến chỉ chích tự tất giai hủy chi. Kỳ cảnh nội Trung Quốc sở lập bi khắc tắc tồn chi. Đăn thị An Nam sở lập giả tất hoại chi, nhất tự bất tồn).

(24) Điều khoản bổ sung vào sắc chỉ đề ngày 21 tháng Năm năm Vĩnh Lạc thứ 5 (1407), Việt kiệu thư, Q. 2, tờ 33a. Nguyên văn: 。片 隻字及 。見 便 壞勿存 。今 。必 。必 。爾 。號 便 (Lũ thường dụ nhĩ, phàm An Nam sở hữu nhất thiết thư bản văn tự, dĩ chí lư tục đồng mông sở tập, nhưThượng đại nhân Khưu ất dĩ” chi loại, phiến chỉ chích tự cập bỉ xứ tự lập bi khắc, kiến giả tức tiện hủy hoại vật tồn. Kim văn quân trung sở đắc văn tự bất tức lệnh quân nhân phần hủy, tất kiểm thị nhiên hậu phần chi. Thả quân nhân đa bất thức tự, nhược nhất nhất lệnh kỳ như thử, tất trí truyền đệ di thất giả đa. Nhĩ kim nghi nhất như tiền sắc, hiệu lệnh quân trung đăn ngộ bỉ xứ sở hữu nhất ứng văn tự tức tiện phần hủy, vô đắc tồn lưu).

(25) Chỉ người Việt.

(26) Sắc chỉ đề ngày19 tháng Năm năm Vĩnh Lạc thứ 5 (25.6.1407), Việt kiệu thư, Sđd, Q. 2; tờ 32a. Nguyên văn: [ ] 去手 敕及 子。及 。盡 便 (Kim An Nam dĩ b́nh [...] Trừ chế dụ ngoại ứng phát khứ thủ sắc, cập kư sự tiểu thiếp Thành Quốc công lĩnh đới khứ tiểu sách tử, cập điều hoạch sự kiện, tận số kiểm đối, mật phong kiểu lai. Bất hứa tồn lưu nhất tự, lậu lạc tại bỉ bất tiện).

 

     

Home | TàuCộng KhóThắng BiểnĐông | ThủĐoạn TiêuDiệt VănHóa | VănTế 74 TửSĩ HảiChiến HoàngSa | H́nhẢnh HảiChiến HoàngSa | BảnĐồ ThuyếtTŕnh Edm&Calgary | Dự-Án Song-Tử | Tàu TrungCộng Cắt Cáp Tàu ThămḌ VN | Lệnh TamBấtĐả-HứaThếHữu | Biển Đông 74,000 năm trước | Tham-Luận Biển Đông | Hải-đồ DângGiặc | Bản-Đồ Bắc TrườngSa | BảnĐồ MalaysiaViệtNam | Bản-Đồ Nước Triệu km2 | Nước Việt H́nh Chữ S | Hải Phận Triệu Km2 | Hải Phận Triệu Km2 (Tiếp) | Hải Phận Valencia | TàiLiệu PhápLư | BảnĐồBiênGiớiViệt-Hoa | Bản-đồ Phân-Chia Vịnh Bắc-Việt | VịnhBắcViệt | LáThư Gởi Đầy Tớ | TiếngNóiVịnhBắcViệt | VấnĐềBiênGiới-BsNguyenĐanQuế | HảiGiới ViệtHoa | VĩnhBiệt NguyênNhi | LêChíQuangPhảnĐối | CácĐội HoàngSa | NamQuan | BiểnĐông ThiênKỷMới | Biển Đông Ô Nhiễm | VịnhBắcViệt-HàngHải | VịnhBắcViệt-HuyềnThoại | NguyễnNhă-NghiênCứu HoàngSa | Chủ Quyền HoàngTrường | HảiThươngBiểnĐôngCổThời | BsTrầnĐạiSỹTổngKếtHảiChiến | HảiChiếnHoàngSaNóiChuyện | Hải Chiến Hoàng Sa | HQ16ĐàoDân | HảiChiếnHoàngSaTrầnThếĐức | VĩnhLiêmHoàngSaHảiChiến | Chuyện Một Con Tàu | NgườiBạnHảiQuân | BạnTôiSầuĐông | SachMoiNgoTheVinh | TranhCổTấnTinhChâu | HảiQuân C̣n Mất | TuầnThám NguyễnVănƠn | FutureDestroyer | Mischief Situation | DER-HQ4 | To Chuc HQVNCH | Forgotten ASPB | Études Vietnamiennes | Environments'Protection | VN Water Culture | Legends-Water Realm | Useful Books&Maps | VN Sovereignty | Vietnam Energy | Raft Across Pacific | Triết Lư Nước | HảiQuânViệtNam TừBaoGiờ | Hàng Hải Gốc Rễ Việt Nam | Địa Lư Biển Đông | Thuật Ngữ Hàng Hải | NgườiViệt KhámPhá MỹChâu | Ngày HảiQuân1973 | Photo Album | Người Thủy Thủ Già | SoạnThảo HảiSử | MộtNgàyVớiĐĐCang | Lược Sử Nước | PhanQuỳnh | NguyễnVănLục | HT Nguyễn Văn Lộc | VũNgọcRuẩn BốTôi | VũVănToàn | ThơVăn HoàngĐ́nhBáu | KỷNiệm ĐờiQuânNgũ | ChiếcB́nh TháiLọ | ChânDung SVSQHQXI | BảoB́nh&H́nhẢnh | Quê Nhà 50 Năm Trở Lại | ChuVănAn2B3-1956

This site was last updated 03/24/16